Dâu tây là 1 loại cây xuất xứ vùng ôn đới, được người Pháp đem vào trồng ở Việt nam những năm cuối thế kỉ 19 và thích nghi nhất ở Đà lạt. Do khí hậu Đà Lạt quanh năm mát rất thích hợp cho cây phát triển. Những năm gần đây với điều kiện phát triển của khoa hoc, 1 số nhà vườn ở miền Bắc đã nhân giống và trồng thành công cây dâu tây, thích nghi khí hậu bắc kể cả mùa hè. Do vây nếu trồng chúng ta nên chọn mua hạt về ươm, hoặc mua những cây dâu được ươm trồng ở Bắc từ nhỏ, sức sống khỏe. Hoặc có thể mua cây từ Đà Lạt chuyển ra với điều kiện đã được trồng ổn định 1 thời gian dài ngoài Bắc.
Dâu tây ưa nước, mỗi ngày cần tưới 1-2 lần, đặc biệt ngày hanh khô cần tăng cường tưới. Ngày mưa đất ẩm giảm hoặc không cần tưới.
TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐỂ CÂY Ở TRONG NHÀ, HOẶC HIÊN KHÔNG CÓ ÁNH NẮNG, SƯƠNG ĐÊM, KHÍ TRỜI. VÀ KHÔNG TƯỚI CÂY LÚC TRỜI NẮNG GẮT.

– Không vùi gốc quá sâu (nhiều người cho rằng càng vùi gốc sâu càng tốt, giúp cây hút nhiều chất dinh dưỡng, điều này chỉ đúng với cà chua) nhưng thực ra điều đó làm hại cây, cây dễ bị nhũn gốc, mầm mới lên cũng bị thối mầm. Tuy nhiên cũng không nên đặt gốc cao quá , bị lộ rễ dễ bị nấm và sâu bệnh xâm nhập
– Tưới vào xung quanh chậu, làm đất ẩm, tránh tưới thẳng vào gốc, vào hoa, vào quả. Vì tưới nhiều quá vào gốc sẽ gây thối gốc, tưới vào hoa gây méo quả, tưới vào quả qua sẽ hay bị mốc.
-Khi quả gần chín, bắt đầu chuyển từ trắng sang hồng giảm lượng nước tưới để quả không bị nhạt
-Trồng cây ở vị trí nhiều sáng, nhiều nắng sớm chiếu vào. Tuy nhiên mùa hè nắng chói cần che cây vào tán râm dưới bóng cây khác khi nắng gắt (10 giờ sáng-4 giờ chiều)
Bón phân vi sinh hữu cơ hoặc phân bón chuyên dùng cho dâu tuần 1 lần. Giai đoạn cây giống bón phân NPK (pha loãng rồi tưới) khi cây ra quả bón phân hữu cơ thì tốt hơn .1 tuần 1 lần bón 1 thìa quanh gốc.
Dâu tây rât hay bị rệp và nhện tấn công, rệp bé li ti bám dưới gốc dâu, măt sau của lá dâu, nhện hay giăng tơ trên bề mặt lá, ra sức hút nhựa làm cây cạn dần sự sống, vì vậy nên thường xuyên quan sát, nếu bị rệp có thể giã nát ớt cay pha với rựou trắng phun vào (phun từng tý 1, không phun ào 1 lúc xót cây). Hoặc giết bớt rồi pha nước rửa bát loãng phun vào. Trường hợp quá nặng cần cách ly mua thuốc trừ rệp đặc hiệu về phun. Không phun giai đoạn quả chín nhé.
A. BỆNH HẠI
1. Bệnh xì mủ lá: (Xanthomonas fragaria)
1.1 Triệu chứng:
Vết bệnh là những đốm nhỏ sũng nước ban đầu xuất hiện dưới bề mặt lá. Lá có màu xanh tái khi đưa ra ánh sáng mặt trời. Sau đó các lá bị bệnh có thể bị khô héo và chết.
1.2 Quá trình nhiễm bệnh:
Vi khuẩn lan từ cây này sang cây khác, từ lá già sang lá non do sự bắn toé nước khi trời mưa hoặc do tưới tiêu nhưng chúng không lan từ tế bào này sang tế bào khác. Vi khuẩn xâm nhập qua cửa khí khổng của lá. Để nhận biết bệnh, vào sáng sớm lật mặt lá lên, ta có thể nhìn thấy chất dịch màu trắng như mủ chảy ra từ vết bệnh.
Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.
1.3. Biện pháp phòng trừ:
– Sử dụng cây giống từ những vườn ươm sạch bệnh.
– Sau khi đã ngắt tỉa những lá bị bệnh phải tiến hành thu gom để tiêu huỷ hoặc đốt, chôn xa ruộng dâu để diệt trừ triệt để những mầm bệnh còn sót lại trên đồng ruộng.
– Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, sử dụng lớp phủ rơm cỏ khô để hạn chế sự bắn toé nước khi trời mưa, giữ cho ruộng dâu luôn khô ráo và có phương pháp tưới hợp lý (nếu có điều kiện nên áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt).
Nếu thực hiện một cách nghiêm túc các biện pháp trên ta có thể khống chế bệnh một cách dễ dàng, ngay cả trong trường hợp cây bị nhiễm bệnh nặng.
2. Bệnh đốm đỏ: (Mycosphaerella fragariae)

2.1 Triệu chứng:
Ban đầu trên lá xuất hiện những đốm tròn màu tía, có thể nhìn thấy trên bề mặt lá. Đốm tròn lan rộng từ 3-6mm. Ở trung tâm đốm có màu xám trắng, hoại tử, có quầng màu tím bao quanh đốm bệnh. Ta có thể nhìn thấy những đốm đỏ ở mặt dưới của lá nhưng màu nhạt hơn. Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.
2.2. Quá trình nhiễm bệnh:
– Những bào tử trưởng thành gây hại ở cây bệnh có thể lây qua cây mới do sự bắn toé nước khi tưới phun mưa hoặc khi trời mưa to. Khí hậu ấm và ẩm thuận lợi cho bệnh đốm đỏ phát triển.
2.3. Biện pháp phòng trừ:
– Tỉa các phần bị bệnh và bị chết của cây, tiêu huỷ chúng bằng cách đốt hoặc chôn ở xa ruộng dâu.
– Dùng cỏ khô phủ đất để giảm sự bắn toé nước khi trời mưa nặng hạt. Tránh làm bắn toé nước khi dùng hệ thống tưới phun mưa. Tưới nhỏ giọt là biện pháp tốt để kiểm soát bệnh này.
3. Bệnh phấn trắng: (Sphaerotheca macularis)

3.1. Triệu chứng:
Ban đầu vết bệnh xuất hiện một lớp bột trắng, ta có thể nhìn thấy sau mặt lá, nhưng trên mặt lá thân, hoa, và trái cũng có thể bị nhiễm bệnh. Lá bệnh có khuynh hướng cuốn tròn lên phía trên và để lộ sau mặt lá một lớp bột màu trắng. Những vùng bị nhiễm bệnh thường sẽ héo khô và chết.
3.2. Quá trình nhiễm bệnh:
– Những vùng bị nhiễm bệnh có thể phân tán một số lượng lớn mầm bệnh và theo gió – chúng nhanh chóng lây lan qua những cây khoẻ mạnh.
– Nấm tự hình thành không phụ thuộc vào ẩm độ trên lá, ngay cả trong điều kiện khô ráo, nấm vẫn có thể xuất hiện. Loại nấm này thường gặp nhiều ở nhà kính và dàn che nilon hơn là canh tác ngoài trời. Nấm phấn trắng lây lan rất nhanh và gây thất thu lớn đến sản lượng dâu và chất lượng trái. Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây nhưng ảnh hưởng nhiều ở thời kỳ cây đã ra hoa, kết trái.
3.3. Biện pháp phòng trừ
– Sử dụng nguồn giống sạch bệnh.
– Thực hiện chế độ luân canh với các cây trồng không phải là ký chủ của bệnh phấn trắng.
– Ap dụng chế độ vệ sinh đồng ruộng, ngắt tỉa thường xuyên các thân lá bị bệnh đem tiêu huỷ ở xa ruộng.
– Dàn che dâu phải cao và thông gió. Lên luống cao tránh úng vào mùa mưa.
– Không trồng mật độ dày, tăng cường phân kali cho cây.
4. Bệnh mốc xám: Thối trái do (Botrytis cinerea)

4.1 Triệu chứng:
– Nấm Botrytis chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn quả chín, nhưng trong điều kiện ẩm ướt bệnh có thể gây hại nghiêm trọng. Biểu hiện đầu tiên là những đốm nâu sáng xuất hiện, sau đó lan rộng cả trái và phủ một lớp mốc xám.
– Hoa và trái non cũng có thể bị nhiễm bệnh và làm cho trái bị khô. Nhiệt độ tích trữ trái dâu đã thu hoạch càng cao thì mầm bệnh nhanh chóng lây lan.
4.2 Quá trình nhiễm bệnh
– Mầm bệnh có thể xuất phát từ lá, trái bị nhiễm bệnh còn xót lại trên ruộng và lây lan bởi gió, ngoài ra mầm bệnh cũng có thể đến từ bên ngoài ruộng nhưng điều đó không quan trọng.
– Bệnh mốc xám phát triển rất mạnh trong điều kiện ẩm độ không khí cao và bề mặt luống ẩm ướt trong điều kiện thời tiết mùa mưa.
4.3 Biện pháp phòng trừ.
– Thu dọn tất cả các tàn dư của cây bệnh (đốt hoặc chôn xa đồng ruộng). Sử dụng màn phủ bằng rơm hoặc lưới để ngăn trái không tiếp xúc với đất trồng hoặc sự ẩm ướt.
– Chọn đất trồng cao ráo, thoát nước tốt, lên luống cao. Bón cân đối NPK, tăng cường Kali trong vụ mưa. Luân canh và xử lý đất trước khi trồng.
– Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, không tưới vào buổi giữa trưa hoặc xế chiều vì thời gian này duy trì sự ẩm ướt sẽ kéo dài. Giữ cho bề mặt luống dâu luôn được khô ráo.
– Trái đã thu hoạch nên bảo quản ở nhiệt độ 2 – 40C để ngăn chặn sự sinh trưởng của nấm bệnh.
Lưu ý: Trong thời gian ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao phải rút ngắn thời gian giữa 2 lần phun từ 3 -4 ngày xử lý 1 lần mới có khả năng hạn chế được bệnh. Phun kỹ vào các chùm trái, giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc với nồng độ cao sẽ làm trái dị dạng. Trong vùng đã bị kháng thuốc thì phải thay đổi và sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ nấm khác nhau. Dưới điều kiện mưa nhiều và kéo dài thì nấm bệnh rất khó kiểm soát.
5. Bệnh cao su: (Thối trái do Phytophthora cactorum)

5.1 Triệu chứng:
– Cả trái non và trái chín đều bị biến màu. Trái xanh dễ bị cứng và chuyển sang màu nâu. Trái già chuyển sang màu trắng tái, màu đỏ hoặc hơi nâu và hơi mềm. Trái bị bệnh trở nên khô, teo nhỏ lại và dai như cao su.
– Triệu chứng đặc biệt của bệnh này là trái bị mất hương, vị có mùi khó chịu. Trái bị bệnh có mùi dầu nhớt xe và có vị đắng.
5.2 Quá trình nhiễm bệnh
– Nấm có trong đất và xâm nhập lên trái do sự bắn tóe nước khi trời mưa hoặc tưới nước hoặc do trái tiếp xúc với đất trồng.
– Bệnh lây lan và phát triển nhanh vào mùa mưa và ẩm độ không khí cao.
5.3 Biện pháp phòng trừ
– Để kiểm soát bệnh này, ta cần phải kiểm soát lượng nước. Cách ngăn chặn, phòng ngừa rẻ tiền và hiệu quả là dùng màng phủ. Màng phủ cỏ khô và rơm là tốt nhất. Nhưng lớp màn phủ phải đủ dày để trái không bị tiếp xúc với đất trồng và không bị ảnh hưởng bởi sự bắn tóe nước. Biện pháp tốt nhất là phủ một lớp cỏ hoặc rơm khô lên bề mặt đất trồng sau đó phủ một lớp lưới lên trên lớp cỏ. Biện pháp này giúp cho trái dâu được khô ráo, không nhứng ngăn ngừa được bệnh cao su mà còn ngăn ngừa được nhiều bệnh khác.
6. Bệnh đốm đen (Colletotrichum acutatum)
6.1 Triệu chứng:

– Khi trái chín, xuất hiện những đốm tròn có màu nâu. Những đốm tròn sạm màu và sau đó biến thành màu đen hoàn toàn. Nếu trái bị nhiễm bệnh trước khi chín thì toàn bộ trái sẽ bị đen và héo.
– Trong quá trình vận chuyển, tích trữ, nguồn bệnh vẫn tiếp tục lây lan làm cho trái bị hư hỏng nặng hơn. Đây là vấn đề đáng quan tâm.
6.2 Quá trình nhiễm bệnh:
– Những ngó dâu đã bị nhiễm bệnh ngay từ lúc trồng thường không thấy xuất hiện triệu chứng bệnh. Trong ruộng dâu, nấm bệnh có thể lây lan do sự bắn tóe nước khi tưới hoặc do trời mưa nặng hạt hoặc do quá trình chăm sóc cắt tỉa và thu hái. Cây có quá nhiều đạm cũng rất dễ nhiễm bệnh.
6.3 Biện pháp phòng trừ:
– Sử dụng giống cây có nguồn gốc đáng tin cậy. Hạn chế bón quá nhiều đạm, không bón quá 80kg đạm nguyên chất/ha/năm. Sử dụng màng phủ rơm rạ để hạn chế mầm bệnh lây lan do sự bắn tóe nước.
– Thu dọn và tiêu hủy tất cả tàn dư cây trồng có trong ruộng dâu (chôn hoặc đốt những lá già, bệnh, và những thứ tương tự).
– Mùa vụ chỉ kéo dài trong một năm từ lúc trồng đến khi kết thúc thu hoạch vì nếu tiếp tục thu hoạch qua năm thứ hai thì bệnh sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.
7. Bệnh bạch tạng (physiological)

7.1 Triệu chứng:
Khi trái dâu chín, trên trái xuất hiện những mảng màu trắng, làm giảm giá trị thẩm mỹ và hương vị dâu. Hơn thế nữa những mảng trắng làm tăng nguy cơ xâm nhập của nấm gây thối trái.
7.2. Nguyên nhân.
Nguồn gốc của loại bệnh này có thể liên quan đến sự sinh trưởng dinh dưỡng qúa mạnh và hàm lượng đạm quá cao cùng với điều kiện thời tiết ẩm thấp và trời nhiều mây, u ám.
7.3. Biện pháp phòng trừ:
– Không nên bón quá 80kg đạm nguyên chất/ha/năm.
– Thực tế cho thấy rằng sử dụng lớp phủ sẽ làm giảm chứng bệnh bạch tạng ở trái dâu. Lớp phủ bằng cỏ khô sẽ tốt hơn lớp phủ bằng nilon.
8. Thiếu hụt canxi (physiological)
8.1. Triệu chứng
Khi lá còn non và chưa trải ra, đầu mút của lá đã bị hoại tử và khô, vì vậy khi lá lớn lên đầu mút bị xoắn lại nhưng những phần khác của lá vẫn phát triển bình thường, khoẻ mạnh8.2. Nguyên nhân;
Những cây dâu phát triển quá nhanh thường gây cản trở cho việc hấp thu canxi từ đất, mặc dù lượng canxi trong đất rất dồi dào. Khí hậu khô, lạnh và nhiều mây gây cản trở rất nhiều đến việc hấp thụ canxi của cây.
8.3 Biện pháp phòng trừ:
– Phải đảm bảo đất thường xuyên đủ độ ẩm.
– Các loại phân bón lá có hàm lượng Canxi và Bor cao như Nitrabor (Calcium Nitrate) có thể sử dụng để phòng trừ trong các trường hợp cây thiếu hụt canxi.
– Việc sử dụng hợp lý canxi và boron hợp lý sẽ làm cho trái cứng, bóng, kháng được bệnh và có thể giữ được lâu hơn.
9.Thiếu hụt Boron
9.1. Triệu chứng:
Trái nhỏ hơn bình thường và dị dạng vì một vài chỗ trên trái bị teo lại và không phát triển. Mùi vị của trái gần như bình thường nhưng không có giá trị về mặt kinh tế.
9.2. Nguyên nhân:
Vi lượng Boron rất quan trọng trong quá trình thụ phấn. Khi một hay nhiều hoa cái không được thụ phấn thì mô quả ở chỗ đó sẽ không phát triển và làm cho trái bị dị dạng. Boron có chức năng quan trọng đối với bộ rễ, vì vậy thiếu hụt Boron có thể làm cho cây dâu không hấp thu tốt các chất dinh dưỡng.
9.3 Biện pháp phòng trừ
– Thiếu hụt Bo là vấn đề dinh dưỡng thường gặp ở cây dâu. Nếu thiếu hụt Bo kéo dài nên sử dụng các lọai phân bón lá có hàm lượng Bo cao như Nitratbor, superBo để phun xịt. Tuy nhiên phải thực hiện đúng theo hướng dẫn vì nồng độ Bo cao sẽ gây độc hại cho cây trồng. Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện trái dị dạng lập tức hái bỏ ngay.
10. Thụ phấn không đầy đủ
10.1. Triệu chứng:
Có thể chỉ bị ở đầu trái hoặc nghiêm trọng hơn thì một vùng trái lớn bị ảnh hưởng. Những vùng không được thụ phấn đầy đủ thì mô quả không phát triển và vùng không được thụ phấn bị chai, cứng. Bệnh làm giảm giá trị thẩm mỹ của trái.
10.2. Nguyên nhân:
Bất cứ khi nào phần đỉnh của hoa không được thụ phấn thì triệu chứng như trên sẽ phát triển. Triệu chứng có thể xảy ra khi thời tiết lạnh buốt đột ngột. Rét hại ngăn chặn những con ong đến hút mật hoa.
– Nếu cây không đủ dinh dưỡng để nuôi trái thì phần đỉnh của trái sẽ xuất hiện triệu chứng tương tự.
10.3.Biện pháp phòng trừ:
Cố gắng giữ cho cây đủ nước và phân trong mọi điều kiện, không nên phun thuốc trừ sâu có nồng độ cao vào những giai đoạn hoa nở rộ và đang được thụ phấn.
– Dùng các loại phân bón lá như Nitrabor và Botrac phun lên lá cũng có thể chữa trị được bệnh này
B. SÂU HẠI:
1. Nhện đỏ: (Tetranichus spp)

1.1. Đặc điểm gây hại
– Cả trưởng thành và ấu trùng đều sống tập trung ở mặt dưới phiến lá của những lá non đang chuyển dần sang giai đoạn bánh tẻ. Nhện gây hại bằng cách chích hút dịch của mô tế bào lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lổ từng đám., hơi nâu ở phía dưới lá. Ta có thể thấy một lớp mạng nhện nhỏ, mịn ở mặt dưới của lá. Nếu gặp điều kiện thuận lợi, nhện sinh sản rất nhanh, mật độ có thể lên đến hàng vài chục con trên một lá, làm cho từng mảng lá bị vàng, khô cháy.
– Hoa và trái cũng bị nhện gây hại. Nhện đỏ hút chất dinh dưỡng trong trái làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. Hoa có thể bị thui, rụng.
1.2. Đặc điểm hình thái và quy luật phát sinh
– Nhện đỏ có kích thước cơ thể rất nhỏ, lấm tấm như cám, mắt thường khó phát hiện. Nhện trưởng thành dài 0,5 – 1 mm, màu hồng, đỏ nhạt, hình cầu (con cái), con đực nhỏ hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói, trên mình và chân có nhiều lông cứng. Giai đoạn trưởng thành thường kéo dài từ 10 -14 ngày
– Con trưởng thành đẻ trứng rời rạc ở mặt dưới của phiến lá. Qua kính lúp sẽ thấy trứng hình tròn, lúc mới đẻ có màu trắng hống, sau đó chuyển hoàn toàn sang màu hồng.
– Trứng sau khi đẻ khoảng 4-5 ngày sẽ nở thành nhện non. Au trùng có màu xanh lợt, lúc mới nở chỉ có 6 chân, từ tuổi 2 trở đi cho đến khi trưởng thành chúng có 8 chân. Giai đoạn ấu trùng khoảng 6-9 ngày. Mỗi con cái đẻ 1 lần từ 50 – 100 trứng.
Nhện đỏ thường phát sinh và gây hại nặng trong mùa khô nóng hoặc những thời gian bị hạn trong mùa mưa.
Nhện đỏ lan truyền nhờ gió và nhờ những sợi tơ, mạng nhện mà chúng tạo ra.
1.3. Biện pháp phòng trừ
– Thật mâu thuẫn, điều kiện để chống lại nấm mốc (khô, ráo và nắng) thì là điều kiện thuận lợi cho nhện đỏ sinh sôi, nảy nở. Vì vậy để đảm bảo ruộng dâu không bị nấm cũng như nhện đỏ thì người trồng dâu cần phải biết điều chỉnh chế độ tưới, phương pháp tưới cho hợp lý đặc biệt là khi thời tiết khô hạn.
– Không nên trồng dâu với mật độ quá dầy làm cho tán lá rậm rạp, nhện có điều kiện thuận lợi gây hại nhiều hơn.
– Mạnh dạn cắt bỏ những lá có mật số nhện quá cao đã chớm vàng úa đem tiêu huỷ để diệt nhện.
– Có thể dùng các vòi tưới nước có áp suất mạnh xịt mạnh vào mặt dưới của lá để rửa trôi bớt nhện.
– Kiểm tra vườn dâu thường xuyên nếu thấy lá dâu có những triệu chứng bị nhện đỏ gây hại thì cần kiểm tra kỹ bằng kính lúp để soi tìm nhện ở mặt dưới của lá. Khi ruộng có mật số nhện cao thì phải phun thuốc để diệt nhện kịp thời. Nhện đỏ có khả năng kháng thuốc cao, vì thế để giảm bớt áp lực gây kháng thuốc cho nhện nên dùng luân phiên nhiều loại thuốc có hiệu quả
Cách xử lý: Nên lưu ý khi xử lý phải phun ướt đều cả mặt dưới và mặt trên của lá, không nên phun thuốc khi trời nắng nóng quá để tránh hại cây, sau khi xịt thuốc nên bón bổ sung thêm phân để cây nhanh chóng phục hồi.
2. Bọ trĩ: (Frankliniella spp)

2.1. Đặc điểm gây hại:
– Bọ trĩ phá hoại búp, lá, thân và trái non. Chúng hút chích nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất thu hoạch. Hoa bị bệnh chuyển màu nâu và chết. Tuy nhiên trái non vẫn tiếp tục lớn nhưng có màu vàng đồng. Những trái bị triệu chứng này thường nhỏ và cứng hơn, đồng thời những hạt trên bề mặt trái dâu bị lồi ra. Bề mặt trái dâu bị rạn và có màu đồng.
– Ban đầu bọ trĩ tấn công trên từng buồng trái và từng cây làm cho trái bị biến thành màu vàng đồng. Nếu như cây bị bọ trĩ tấn công nhẹ thì cây bên cạnh không bị ảnh hưởng. Trái lại nếu cây và trái chín bị tấn công quá nặng thì bọ trĩ sẽ chuyển sang tấn công những cây bên cạnh và có thể nhìn thấy trái bị bọ trĩ ăn trên khắp ruộng dâu.
2.2. Đặc điểm hình thái, quy luật phát sinh
– Trưởng thành nhỏ, màu vàng xám, dài 1,2-1,4 mm. Cánh trước có hàng lông cứng trên gân cánh, không liên tục. Trứng được đẻ trong mô ở các bộ phận non của cây, một bọ trĩ cái đẻ được 40-50 trứng.
– Bọ trĩ non màu vàng nhạt, sống gây hại chung với bọ trĩ trưởng thành. Bọ trĩ thuộc loại côn trùng biến thái trung gian, đẫy sức bọ trĩ non chuyển sang giai đoạn nhộng giả có thể ở trong lá khô hay vỏ cây, nhưng chủ yếu vẫn là ở trong đất.
Ở nhiệt độ 200C thời gian phát triển vòng đời của bọ trĩ là 17 -20, ở 25 0C là 14 -18, ở 300C là 12 – 13 ngày. Một năm có khoảng 20 thế hệ bọ trĩ hoàn thành chu kì phát triển. Màu trắng, màu xanh và tia tử ngoại đều thu hút bọ trĩ.
Ở mật số thấp bọ trĩ thường gây hại ở mặt dưới của lá cây, ở mật số cao thấy chúng xuất hiện ở cả mặt trên của lá.

2.3. Biện pháp phòng trừ:
– Nếu chỉ có vài con bọ trĩ trên mỗi hoa thì không có tác hại nhiều, nhưng nếu số lượng này lên đến mười con trên mỗi hoa cần phải phun thuốc ngay.
– Phòng trừ bọ trĩ thường gặp rất nhiều khó khăn nếu chúng đang gây hại ở trong ngọn non và trong hoa. Các biện pháp có thể áp dụng là:
+ Vệ sinh đồng ruộng để giảm nguồn bọ trĩ sọc vàng tồn tại và lây lan.
+ Trồng cây trong nhà lưới.
+ Gieo trồng cây con khỏe, phủ đất bằng plastic màu xám trắng.+ Điều tra chính xác, phun trừ kịp thời những lứa bọ trĩ gây hại giai đoạn cây ra đọt, trái non. Các loại thuốc sử dụng để phòng trừ bọ trĩ là:
3. Sên, nhớt

3.1. Đặc điểm gây hại:
Oc sên thường xuyên có mặt trên đồng ruộng, nhưng khi trời nắng thì chúng trốn dưới bất cứ vật gì miễn sao có bóng mát và ẩm ướt như lá chết, nilon, đá. Chính nơi đó chúng có thể nằm đẻ trứng. Vào ban đêm hoặc vào những ngày mưa ốc sên và nhớt bò ra ngoài để ăn những cây mục nát và cả trái dâu. Những vết tổn thương này làm giảm đáng kể giá trị của trái và đó chính là nơi để nấm mốc làm thối trái xâm nhập và phát triển.
3.2 Biện pháp phòng ngừa:
– Làm giảm những nơi ốc sên và nhớt có thể trốn, nếu được hãy luôn giữ cho ruộng dâu luôn sạch sẽ và không có xác cây, lá chết.
– Xử lý đất với thuốc Mocap 3G (50kg/ha) trước khi trồng rồi cày trộn đều vào đất và dùng lưới phủ đất để ngăn chặn sên, nhớt.
– Ap dụng biện pháp thủ công để thu bắt và tiêu diệt tất cả những con sên nhớt trong quá trình cuốc đất, tỉa cây.
– Có thể trộn thuốc Bolis 5B với cám rang, vãi thành từng đám trên bề mặt luống dâu để diệt sên và nhớt, nên rải thuốc vào chiều tối và sau khi tưới nước.
Ghi chú: Hiện nay có hai phương pháp canh tác cây dâu tây là trồng trong nhà che nilon và trồng ngoài đồng. Hiện tại ở Đà Lạt chủ yếu là canh tác ngoài trời, số hộ canh tác trong nhà nilon rất ít. Các đối tượng gây hại trên dâu tây ngoài đồng đều có xuất hiện đối với dâu canh tác trong nhà nilon tuy nhiên phương pháp sản xuất cây dâu trong nhà che có các ưu điểm như:
– Hạn chế được mức độ gây hại của nhiều loại bệnh như bệnh xì mủ lá, bệnh thối trái phát triển mạnh trong điều kiện mùa mưa. Tuy nhiên nếu thiết kế dàn che không đảm bảo chiều cao, chế độ thông gió tốt thì ẩm độ sẽ gia tăng đột ngột tại một số thời điểm trong ngày ảnh hưởng đến sinh lý của cây.
– Hạn chế đất ngập úng, ẩm độ gia tăng và rửa trôi phân bón khi mưa kéo dài hay mưa lớn trong vụ Hè Thu.
Mua hạt giống dâu tây tỉ lệ nảy mầm cao, chống nấm mốc sâu bệnh tốt tại hatgiongnangvang.com, ship toàn quốc
Hạt Giống Nắng Vàng
SĐT: 0965 225 298
Địa chỉ: Số 90 ngõ 176 Trương Định, Quận Hoàng Mai, Hà Nội.